Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

THS. TRIỆU QUANG KHÁNH – Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng

Án lệ là một hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và được hình thành thông qua các quyết định của toà án. Theo nghĩa hẹp, thì đó là một cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc sẽ xảy ra trong tương lai. Cho đến nay, vai trò của án lệ chưa thực sự được thừa nhận trong môi trường văn hóa pháp lý nước ta.

Khi đọc bài  "Tư duy án lệ góp phần hoàn thiện pháp luật" của ThS. Nguyễn Văn Nam, trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9 (58) tháng 9/2005, chúng tôi thấy cần đưa thêm một số minh chứng ủng hộ quan điểm: "… nên để án lệ được hiện diện trong hệ thống pháp luật nước ta với tư cách là nguồn luật có giá trị tham khảo".

Trong lịch sử lập pháp của thế giới, án lệ là nguồn chủ yếu và quan trọng của hệ thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ, Australia…) nhưng lại chỉ được coi là nguồn thứ yếu trong hệ thống pháp luật dân sự (Pháp, Đức, ý…). Mặc dù về mặt lý luận, luật thành văn và các bộ luật vẫn giữ vai trò là nguồn chính trong hệ thống pháp luật dân sự, nhưng án lệ cũng có vai trò và tầm quan trọng riêng ở các nước theo truyền thống luật dân sự.

Ở nước ta, từ trước đến nay, án lệ chưa được thừa nhận một cách chính thức là một nguồn trong hệ thống pháp luật nước ta, nhưng án lệ (hay còn được gọi là tiền lệ án) đang dần được công nhận như là một nguồn của pháp luật Việt Nam. Biểu hiện cụ thể cho việc này chính là việc sử dụng những quy định hướng dẫn xét xử trong nhiều công văn, thông tư của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đối với các toà án cấp dưới trong quá trình xét xử mà những hướng dẫn này là kết quả thu được từ kinh nghiệm xét xử được TANDTC nghiên cứu và hệ thống hoá thành các quy định để hướng dẫn toà án cấp dưới trong công tác xét xử. Một biểu hiện gần đây nhất chính là việc TANDTC đã xuất bản hai tập quyết định giám đốc thẩm bao gồm các quyết định dân sự và hình sự. Đây chính là những lý do khiến chúng tôi tìm đến những minh chứng cho thấy vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự thế giới và những lý do cần coi án lệ như là một nguồn của pháp luật.

1. Trong hệ thống pháp luật dân sự, án lệ cũng được coi là những căn cứ pháp luật mà thẩm phán được quyền sử dụng trong trường hợp không có luật thành văn hoặc luật tục tương tự

Điều 4 Bộ luật Dân sự của Pháp quy định: nếu thẩm phán từ chối đưa ra phán quyết khi dựa trên cơ sở pháp luật không quy định về vấn đề đó, quy định không rõ ràng hoặc không đầy đủ, thì bản thân anh ta có thể bị kiện vì lý do phủ nhận công lý. Do vậy, anh ta phải đưa ra được một phán quyết. Để đưa ra phán quyết có tính thuyết phục, rõ ràng thẩm phán Pháp cần phải sử dụng các nguồn pháp luật khác. Tuy nhiên, Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp lại chỉ dẫn rõ hơn rằng: "những phán quyết mang tính bắt buộc để đặt thành những nguyên tắc chung là những án lệ có tính chất quyết định".

Điều 1 Bộ luật Dân sự Thuỵ sỹ cũng hướng dẫn các thẩm phán trong trường hợp không có luật thành văn hoặc luật tục tương tự thì thẩm phán có quyền quyết định tuân theo những nguyên tắc mà anh ta đã đặt ra và nếu anh ta "tự hành động như nhà lập pháp" thì anh ta phải chứng minh "bằng những nguyên tắc luật pháp đã được công nhận và các án lệ" .

Trong Luật hành chính của Pháp và Luật hiến pháp của Đức, các án lệ cũng đã và đang được sử dụng phổ biến. 

2. Trong các phán quyết kiểu mẫu của các toà án khu vực châu âu lục địa với tư cách là các kiểu phán quyết trái ngược với kiểu phán quyết của toà án nước Anh, thì việc sử dụng án lệ lại là một ngoại lệ đối với những nguyên tắc chung 

Tại các toà án khu vực Châu âu lục địa, các bộ luật và luật thành văn là nguồn chính thức và quan trọng hàng đầu ở các nước thuộc truyền thống pháp luật dân sự. Khi xem xét mối quan hệ giữa phán quyết của toà và luật do nhà nước ban hành, chúng ta thấy thẩm phán chỉ dựa vào luật thành văn hoặc luật đã được hệ thống hoá của thẩm phán trong hệ thống pháp luật dân sự tại toà án dân sự. Bất kỳ sự sáng tạo nào của thẩm phán hoặc sáng kiến lập pháp của thẩm phán chỉ được thể hiện trong nội dung "giải thích pháp luật" (legislative interpretation). Theo truyền thống luật Romano-Germanic, nguyên tắc pháp luật phải có nguồn gốc lập pháp hoặc nguồn gốc từ các chính sách của chính phủ. Chính vì vậy, một nguyên tắc nền tảng là toà án tư pháp không được căn cứ vào các quyết định của toà án trước đó để làm cơ sở cho phán quyết của mình.

Như vậy, về mặt lý luận, không có khái niệm nào tương đương với khái niệm "nguyên tắc tiền lệ án" (stare decisis rule). Điều này có nghĩa là, những nguyên tắc đã được thiết lập bởi toà án này sẽ không được áp dụng bởi một toà án khác. Đặc điểm này cũng có thể hiểu thẩm phán là những người giải thích pháp luật chứ không phải là những người sáng tạo pháp luật. Hơn nữa, hệ thống pháp luật dân sự cũng không có sự phân biệt giữa nguyên tắc pháp luật và hiện tượng pháp luật (ratio and dicta) khi phán quyết trở thành một nguyên tắc chung hoặc dựa trên những điều khoản chung từ các phán quyết theo vụ việc. Toà án thuộc truyền thống pháp luật dân sự cũng giải quyết những tình huống thực tế mà toà án thuộc truyền thống pháp luật án lệ sẽ coi là hợp pháp và được quyết định bởi pháp luật. Do vậy, điều này khuyến khích toà án cấp thấp hơn có quyền tự do áp dụng các tiền lệ bắt buộc.

Một ngoại lệ của nguyên tắc chung này là: khi tồn tại một chuỗi tiền lệ thống nhất mà những tiền lệ này cùng xuất phát từ một cách nhìn về một câu hỏi xác định, thì ở các quốc gia nói ngôn ngữ French, Mexico và Spanish, hiện tượng tồn tại một chuỗi các quyết định tương tự có tác động thực tiễn đối với tiền lệ án hoặc các án lệ có tính bắt buộc. Năm 1955, giáo sư Tunc tranh luận rằng, phán quyết của toà giám đốc thẩm là án lệ riêng lẻ (in point Pratiquement) cũng tạo thành pháp luật và lý thuyết "pháp luật bất biến" (Jurisprudence constante) đã trở nên lạc hậu và không chính xác. Năm 1968, giáo sư Nicholas khẳng định sự tiếp tục tồn tại của khái niệm "pháp luật bất biến" và  khái niệm này dường như  tồn tại song song với khái niệm "án lệ riêng lẻ" (single precedent). Cũng vì vậy, Lambert và Wasserman đã phát biểu "nước Pháp cũng có nhiều án lệ như ở Anh" và cách tiếp cận của toà án phụ thuộc vào từng tình huống cụ thể xảy ra tại toà.

ở các nước có hiến pháp thành văn và toà án hiến pháp riêng như ý, Đức… tồn tại những điều khoản lập pháp cho phép những loại phán quyết nhất định có hiệu lực bắt buộc. Đoạn 31 luật về Toà án Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức (Gesetz uber das Bundesverfassungsgericht) cũng đề cập đến tình huống này. Tương tự như vậy, Điều 136 Hiến pháp của ý cũng quy định: "Khi toà án tuyên bố một điều khoản pháp luật không phù hợp với hiến pháp, thì điều khoản đó sẽ hết hiệu lực kể từ sau ngày quyết định của toà án được công bố".

Vì vậy, trong thực tế, có nhiều tình huống mà thẩm phán ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự phải tuân theo quan điểm tư pháp thống nhất đã được thể hiện ở một loạt các phán quyết do toà án cấp trên đặt ra. Sau đây là một vài lý do để toà án cấp dưới dựa theo phán quyết của toà án cấp trên, mặc dù cách thức này chưa được đánh giá và xác nhận như là việc áp dụng tiền lệ án, nhưng nó vẫn được áp dụng:

- Các bộ luật được ban hành vào thế kỷ 19 không thể dự đoán được sự phát triển của thế kỷ 20. Vì vậy, đối với những khoảng trống không được điều chỉnh bởi các bộ luật hoặc văn bản luật, thẩm phán phải tính đến việc tự cho phép thực hiện lập pháp hoặc tiến hành một trình tự sáng kiến pháp luật.  

- Việc áp dụng án lệ thúc đẩy sự ổn định, chắc chắn và có thể dự đoán của pháp luật.

- Thúc đẩy sự công bằng của thẩm phán.

- áp dụng án lệ rất thuận tiện và có hiệu quả khi thực hiện.

- Thẩm phán không muốn xét xử lại hoặc bị bãi bỏ khi bản án bị kháng án, vả lại, việc thực hành án lệ sau sẽ làm rõ cấu trúc của sự hợp tác trong tư pháp.

Tuy nhiên, khi sử dụng hình thức áp dụng này, toà án rất thận trọng đánh giá hai khả năng: (i), hoàn cảnh cấp thiết bắt buộc họ viện dẫn án lệ mang tính hướng dẫn, (ii) một loạt án lệ chỉ được sử dụng để chứng minh cho nguyên tắc chung của pháp luật, mà những án lệ này thường củng cố lý luận cho một phán quyết của toà.

Vì vậy, các quốc gia theo truyền thống luật dân sự trong thực tế đã xem án lệ như là nguồn của pháp luật, nhưng chỉ trong những trường hợp riêng biệt mà không bao giờ tuyên bố chính thức công nhận án lệ là nguồn của pháp luật. Năm 1985, David và Brierley đã phân biệt án lệ khi trở thành nguồn của các nguyên tắc pháp luật nhưng không phải là nguồn của pháp luật. Lý do là mặc dù án lệ được viện dẫn với mục đích xác định pháp luật, nhưng nguồn thực sự của pháp luật vẫn là các luật lệ hoặc nguyên tắc pháp luật phát sinh từ những quy định của chính phủ, luật do thành văn hoặc các bộ luật.    

3. Trong truyền thống pháp luật Nga, án lệ cũng có vai trò nhất định

Trước thời điểm Liên Xô cũ sụp đổ năm 1991, dưới mô hình Liên bang Xô Viết, các bản án được quyết định chủ yếu căn cứ vào các bộ luật đã được ban hành hoặc đã được hệ thống hoá. Trong khi đó, khái niệm và nhận thức lý tưởng của các bộ luật đó lại là công cụ thể hiện chính sách của nhà nước và tư tưởng Marxist – Leninist. Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy rằng, thẩm phán Liên bang Xô Viết là những người phải áp dụng các bộ luật được ban hành, đồng thời không được phép bỏ qua nội dung chính sách đã được cụ thể hóa trong các bộ luật (điều này tương tự như nguyên tắc áp dụng pháp luật ở nước ta).

Tuy nhiên, căn cứ sắc lệnh do Tổng thống Liên xô Boris Yeltsin ban hành, thẩm phán được trao quyền độc lập với quyền kiểm soát của nhà nước và quyền chỉ căn cứ vào các chứng cứ. Điều này đồng nghĩa với việc bắt đầu cho phép thẩm phán có thêm vai trò sáng tạo pháp luật, tức là khi các bộ luật của nhà nước ban hành không có các điều khoản cụ thể quy định áp dụng đối với những vụ án mới xảy ra, thì thẩm phán có quyền xem xét các chứng cứ thu thập được và chỉ căn cứ vào các chứng cứ, nguyên tắc chung của pháp luật và niềm tin nội tâm của mình để ra các phán quyết.   

Từ đó đến nay, trong điều kiện thay đổi mọi mặt của hệ thống Liên bang Nga mới, mặc dù một số các quy định pháp luật của nhà nước Liên bang Xô Viết cũ đã bị đình chỉ thực hiện hoặc bị bãi bỏ, xem xét hoặc biên soạn lại, nhưng việc ban hành các sắc lệnh hành chính đã trở thành một đặc tính cần thiết trong việc thực hành pháp luật của nước Nga. Thời gian qua, một loạt các chỉ thị (sắc lệnh hành chính) đã được ban hành và trở thành kinh nghiệm xét xử vì các sắc lệnh này luôn viện dẫn đến các phán quyết của toà án trong quá trình xét xử như là những căn cứ chứng minh về pháp luật. Như vậy, các sắc lệnh hành chính tổng kết các phán quyết và kinh nghiệm xét xử của tòa án cũng được coi là một nguồn của pháp luật nước này trong quá trình xét xử các vụ án mới.

Bên cạnh đó, Bản tóm tắt các quyết định tư pháp đã được đăng trên tờ tổng kết chính thức có tên là "Luật pháp và Nhà nước Xô viết" được xuất bản năm 1938 cũng được coi là một minh chứng cho sự công nhận các quyết định của tòa án (án lệ) là một trong nguồn của pháp luật của nước Nga.

Từ những minh chứng trên đây cho thấy một điều rõ ràng rằng, mặc dù án lệ không được chính thức công nhận là một nguồn pháp luật trong truyền thống pháp luật dân sự nhưng án lệ vẫn đóng một vai trò hết sức đặc biệt và quan trọng trong những trường hợp mà không có các quy định của luật thành văn hoặc các quy định này không rõ ràng. Điều này cũng đem lại những kinh nghiệm quý báu trong việc xem xét mức độ và cách thức sử dụng các kết quả xét xử đã được TANDTC tổng kết trong hai cuốn "Các quyết định giám đốc thẩm" cho các thẩm phán toà án cấp dưới, các luật sư tranh tụng, sinh viên luật và các cán bộ nghiên cứu pháp luật ở nước ta.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 79 THÁNG 7 NĂM 2006

NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN

Mức độ phát triển và văn minh của một quốc gia không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng của GDP, của thu nhập bình quân đầu người mà còn phụ thuộc vào giá trị công bằng và khả năng thực thi của pháp luật. Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu[1]. Có lẽ vì thế, pháp luật về quyền của người tiêu dùng luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia phát triển và đã trở thành vấn đề pháp lý quốc tế.

Mức độ phát triển và văn minh của một quốc gia không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng của GDP, của thu nhập bình quân đầu người mà còn phụ thuộc vào giá trị công bằng và khả năng thực thi của pháp luật. Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu[1]. Có lẽ vì thế, pháp luật về quyền của người tiêu dùng luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia phát triển và đã trở thành vấn đề pháp lý quốc tế.

Tại Việt Nam, với quan niệm người tiêu dùng là chủ thể trong các giao dịch thương mại – dân sự, pháp luật luôn hướng đến việc bảo vệ sự công bằng và duy trì tính minh bạch của các hợp đồng là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại … Bảo vệ người tiêu dùng đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật thương mại kể từ khi Pháp lệnh về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Pháp lệnh) được ban hành năm 1999. Dù các văn bản pháp luật trên đã có hiệu lực, song thực trạng vi phạm quyền của người tiêu dùng ngày càng nghiêm trọng. Các nhà khoa học, các cơ quan có thẩm quyền và các hiệp hội của người tiêu dùng đã có nhiều cố gắng tìm kiếm và phân tích các nguyên nhân của tình trạng trên như sự thờ ơ của người tiêu dùng trong việc sử dụng các công cụ pháp lý để tự bảo vệ, sự lãnh cảm của nhiều công chức và của các cơ quan có trách nhiệm, vai trò mờ nhạt của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng … Như một tất yếu, nguyên nhân quan trọng nhất được quy về cho sự không đồng bộ và thiếu hiệu quả của hệ thống pháp luật. Để giải quyết tình trạng trên, Nhà nước đang cố gắng nâng cấp Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (Luật BVNTD). Chúng tôi cho rằng, việc nâng cấp pháp lệnh thành luật là cần thiết để khẳng định giá trị pháp lý của lĩnh vực pháp luật này. Song nhiệm vụ quan trọng hơn vẫn là pháp luật phải có nội dung hợp lý và xây dựng được thiết chế thực thi hiệu quả. Trong đó, đạo luật đang được xây dựng cần khắc phục những nhược điểm căn bản của các văn bản hiện hành và được đặt vào môi trường pháp lý thuận lợi thì mới có thể phát huy giá trị thực sự.

1. Xây dựng cơ chế tự vệ cho người tiêu dùng – trọng tâm của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng

Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng không thể coi người tiêu dùng như một đối tượng được bảo vệ một cách thụ động mà cần kích thích và trao cho từng cá thể người tiêu dùng khả năng tự bảo vệ một cách hiệu quả. Để thực hiện yêu cầu này, cần tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, để pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được thực thi hiệu quả, Nhà nước và pháp luật phải phát huy được vai trò cơ bản và chủ động của từng người tiêu dùng trong việc tự bảo vệ và thiết lập các cơ chế để họ thực hiện quyền năng của mình một cách tích cực. Bởi lẽ, pháp luật chỉ có thể đem lại giá trị thực tế khi người tiêu dùng nhận biết và có khả năng vận dụng một cách hiệu quả quyền năng của mình. Nhà nước không thể tự cho mình hoặc tự thành lập những tổ chức có vai trò bảo vệ người tiêu dùng, trong khi chính người được bảo vệ không nhận biết và không có được môi trường để thực hiện quyền tự vệ. Sự thiếu hiểu biết pháp luật của người tiêu dùng lại tạo nên cơ hội cho doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm. Như một tất yếu, khi người tiêu dùng không nhận thức trọn vẹn địa vị pháp lý của mình và không thể tự vệ, sẽ xuất hiện hiện tượng coi thường pháp luật từ các doanh nghiệp; thái độ thờ ơ, lãnh cảm trước pháp luật và sự cam chịu của người tiêu dùng. Để thay đổi được thực trạng, cần có những cải cách mang tính đột phá về hình thức và nội dung của Luật BVNTD đang được xây dựng. Trong pháp luật hiện hành, công thức chung của các quy định về địa vị pháp lý của chủ thể thường là liệt kê các quyền, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm. Sự liệt kê không giải thích hoặc không được cụ thể hóa bằng cơ chế thực thi thích hợp đã làm cho các quy định của pháp luật trở thành những tuyên ngôn không có giá trị thi hành trên thực tế. Pháp lệnh không là ngoại lệ. Đặc thù của lĩnh vực pháp luật này là các quyền của người tiêu dùng phát sinh và được thực hiện chủ yếu trong quan hệ giữa từng cá nhân có nhu cầu tiêu dùng với doanh nghiệp hoặc với các cơ quan nhà nước khi có khiếu nại, khởi kiện. Do đó, với nguyên lý đối ứng, quyền của người tiêu dùng chỉ được tôn trọng khi pháp luật có cơ chế hợp lý ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp, của các cơ quan nhà nước, các cán bộ có liên quan một cách chi tiết, cụ thể. Ví dụ, quyền được thông tin của người tiêu dùng chỉ được thực hiện trên thực tế khi pháp luật xác định cụ thể nội dung minh bạch thông tin của các doanh nghiệp liên quan đến sản phẩm mà họ cung cấp. Đương nhiên, Luật BVNTD không thể dự liệu tất cả các vấn đề và cơ chế ràng buộc trách nhiệm cho doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực của nền kinh tế. Mỗi lĩnh vực với đặc thù riêng về sản phẩm và cách thức cung cấp, tiêu thụ sẽ có những quy chuẩn khác nhau cho doanh nghiệp và những người có liên quan trong việc cung cấp thông tin. Vì vậy, xây dựng luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải được thực hiện đồng thời với công tác rà soát hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan để khi ghi nhận một quyền năng nào đó cho người tiêu dùng cần dự liệu những nguyên tắc cho việc hoàn thiện cơ chế thực thi ở những lĩnh vực pháp luật tương ứng. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức pháp lý cho người tiêu dùng cần được thực hiện bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục hiệu quả. Đầu tư cho các cuộc hội thảo khoa học về vấn đề này có lẽ chỉ giải quyết các yêu cầu mang tính chiến lược, định hướng cho công tác xây dựng pháp luật và hoàn thiện cơ chế thực thi. Giá trị thực tế của một đạo luật hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ và sự hợp tác của các chủ thể là đối tượng áp dụng của đạo luật đó. Vì thế, công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật vẫn còn là một nhu cầu cấp thiết trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai, pháp luật đã đưa ra được khái niệm pháp lý hoàn chỉnh về người tiêu dùng, song cần nhận thức chính xác về giá trị ứng dụng của khái niệm này. Điều 1 Pháp lệnh quy định người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức. Như vậy, thuật ngữ người tiêu dùng không phải là khái niệm chung chung như nhân dân, đồng bào, thanh niên, phụ nữ… Người tiêu dùng phải được hiểu là những cá thể mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt (end consumer). Cá thể hóa khái niệm trên giúp từng người tiêu dùng cụ thể ý thức được chính họ đang có các quyền mà pháp luật quy định. Mỗi người đều có khả năng sử dụng các công cụ pháp lý để tự vệ khi có sự vi phạm, cho dù sự vi phạm chỉ là cá biệt, không phổ biến và giá trị thiệt hại không đáng kể.

Những hành vi xâm phạm đến quyền lợi của một hoặc một số ít người tiêu dùng dường như bị công luận bỏ quên có lẽ do tính cá biệt, riêng lẻ và hậu quả không lớn. Xã hội chỉ bị chấn động và dành sự quan tâm nhiều hơn đến các vụ việc có tác động lớn đến thị trường như vụ việc về điện kế điện tử, vụ việc nước tương, vụ việc duy trì giá xăng dầu, giá vận tải hành khách, vụ việc nhắn tin bằng điện thoại di động để lấy số thứ tự mua vé tàu lửa … Thực tế cho thấy, người tiêu dùng Việt Nam không có những phản ứng mãnh liệt (dù là phản ứng cá nhân hay tập thể) trước những hành vi vi phạm của các doanh nghiệp. Với những vụ việc mà thiệt hại gây ra cho một cộng đồng, phản ứng của người tiêu dùng chỉ là cung cấp các thông tin cho báo chí hoặc các cơ quan có thẩm quyền. Dường như không có người tiêu dùng, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng nào đệ đơn khiếu nại hoặc khởi kiện doanh nghiệp. Trong những vụ việc này, quan niệm mang tính đại chúng, không cụ thể về người tiêu dùng có những tác động khác nhau đến thực tiễn. Dước góc độ tích cực, thiệt hại của người tiêu dùng đã được cộng gộp để có được những con số gây chấn động dư luận. Phản ứng của dư luận thông qua các phương tiện truyền thông đã buộc các doanh nghiệp phải nhanh chóng chấm dứt hành vi vi phạm. Song, ở góc độ khác, quan niệm chung chung về người tiêu dùng có thể tạo nên tâm lý chậm phản ứng trong từng cá thể vì mỗi người tự nhận thấy thiệt hại của họ không đáng kể so với thiệt hại chung. Doanh nghiệp nại ra những khó khăn trong việc chi trả thiệt hại tủn mủn để đề xuất những giải pháp thiếu tính sòng phẳng như dùng tiền thu được một cách bất chính để làm từ thiện (!?). Với những vụ việc mà người chịu thiệt hại chỉ là các cá thể, sự phản ứng của người tiêu dùng thường yếu ớt do thiệt hại không lớn, và vị trí của họ chưa đủ để tạo nên sức ép cho doanh nghiệp. Cũng từ quan niệm mang tính khái quát, chung chung, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng cũng chậm phản ứng hoặc không tích cực trong các vụ việc mà số lượng người bị thiệt hại không đáng kể. Nếu có phản ứng, người tiêu dùng và các tổ chức bảo vệ họ cũng sẽ nhận được những lời lý giải từ phía doanh nghiệp cho rằng sự vi phạm chỉ là những sai sót nhỏ, dễ thông cảm. Như vậy, trong mọi trường hợp, nếu từng cá thể không phản ứng thì chắc chắn pháp luật không có cơ hội được thực thi.

Từ những lập luận trên, chúng tôi đề nghị lưu ý khi xây dựng Luật BVNTD:

(i) Tính cá biệt và không phụ thuộc vào giá trị thiệt hại phải là đặc thù quan trọng của pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Vấn đề cần giải quyết không phải là việc thay đổi khái niệm người tiêu dùng mà phải là xây dựng cơ chế hợp lý để tạo điều kiện cho từng cá nhân – người tiêu dùng sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của từng cá nhân bằng cách buộc người vi phạm bồi thường những thiệt hại, cho dù giá trị thiệt hại không lớn và xử lý hành vi vi phạm, cho dù chỉ xâm phạm đến một đối tượng cụ thể. Pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền không được từ chối giải quyết những yêu cầu mang tính cá nhân, giá trị bồi thường không lớn. Có như vậy, pháp luật mới thực sự trở thành công lý cho người dân và là công cụ hữu hiệu để từng người, tập thể người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân.

(ii) Pháp luật cần xây dựng cơ chế khiếu kiện cá nhân và tập thể một cách cụ thể và minh bạch. Trong pháp luật hiện hành, quyền khiếu nại, yêu cầu bồi hoàn, bồi thường thiệt hại đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh đã gây ra thiệt hại được ghi nhận tại Điều 22 Pháp lệnh, song nội dung của quy định chỉ là đề ra các nguyên tắc cơ bản. Theo đó, người tiêu dùng trực tiếp hoặc thông qua người đại diện thực hiện việc khiếu nại. Pháp luật chưa khuyến khích và đặt ra cơ chế giải quyết khiếu nại tập thể. Như vậy, người tiêu dùng chưa thể liên kết với nhau để khiếu nại hay khởi kiện doanh nghiệp. Trong khi đó, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng chỉ có quyền nhận đơn khiếu nại của người tiêu dùng và tổ chức hòa giải giữa người khiếu nại với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh[2]. Việc thay mặt người tiêu dùng, tập thể người tiêu dùng để khiếu nại, khởi kiện của các tổ chức này cũng chưa được Pháp lệnh quy định. Khiếu nại tập thể phải được hiểu là việc nhiều người tiêu dùng thông qua các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng hoặc tự liên kết thành các nhóm chủ thể để khiếu nại doanh nghiệp hoặc khởi kiện tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi xâm hại quyền lợi hợp pháp của họ. Như vậy, nếu như việc giải quyết triệt để các vụ khiếu kiện cá biệt có thể kích thích khả năng phản ứng của từng người tiêu dùng thì việc thừa nhận quyền khiếu kiện tập thể có thể tạo cơ hội cho người tiêu dùng liên kết thành sức mạnh tập thể, nhằm gây sức ép buộc doanh nghiệp nhanh chóng chấm dứt sự vi phạm và khắc phục hậu quả đã gây ra. Mặt khác, sự liên kết của các cá nhân trong cùng vụ việc có thể giúp người tiêu dùng vượt qua tâm lý ngại tranh chấp, ngại phiền hà để đấu tranh bảo vệ các quyền lợi đã được pháp luật ghi nhận.

(iii) Người tiêu dùng cần được trao quyền kêu gọi cộng đồng tẩy chay một sản phẩm hoặc một doanh nghiệp cụ thể để tạo nên sức ép đối với người có hành vi vi phạm. Hiện tượng tẩy chay tập thể đối với một hoặc các sản phẩm của một doanh nghiệp thể hiện sức mạnh tối cao của quyền được lựa chọn của người tiêu dùng. Đã rất lâu, người tiêu dùng Việt Nam quên mất sức mạnh của họ trước doanh nghiệp. Thế nên, khả năng liên kết trong cộng đồng người tiêu dùng cũng trở nên manh mún, yếu ớt. Gần đây, các vụ việc liên quan đến hành vi gây ô nhiễm môi trường (không phải là hành vi vi phạm pháp luật BVNTD) đã làm dấy lên những lời kêu gọi tẩy chay sản phẩm của doanh nghiệp vi phạm từ các phương tiện truyền thông. Có lẽ, không có biện pháp trừng phạt nào nặng nề hơn đối với doanh nghiệp bằng việc người tiêu dùng (theo nghĩa rộng) quay lưng lại với sản phẩm của họ. Khi xây dựng Luật BVNTD, có lẽ nên quan tâm đến nguyên lý pháp luật chỉ phát huy hiệu quả điều chỉnh triệt để khi biết sử dụng những sức mạnh vốn có của xã hội và của thị trường một cách tối ưu và có trật tự. Do đó, nếu pháp luật tạo được môi trường để người tiêu dùng sử dụng triệt để quyền lựa chọn (bao gồm quyền chấp nhận và quyền từ chối) thì quy luật nghiệt ngã của thị trường sẽ tự trừng phạt người vi phạm mà chưa cần đến những chế tài của pháp luật. Đương nhiên, khi xây dựng quy chế về quyền được tẩy chay tẩp thể, người có trách nhiệm xây dựng pháp luật cần nghiên cứu thấu đáo mọi khía cạnh để người tiêu dùng thực hiện quyền của mình trong trật tự và có giới hạn.

Thứ ba, từ thực tiễn, có thể dễ dàng nhận thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam chưa khai thác triệt để các quyền mà pháp luật quy định cho họ để tự bảo vệ, trong đó có quyền được khiếu nại, khởi kiện doanh nghiệp có hành vi vi phạm. Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ do người tiêu dùng chưa ý thức đầy đủ quyền và trách nhiệm xã hội của mình với tâm lý ngại đấu tranh, ngại tranh chấp, ngại phiền hà mà còn vì sự lúng túng không biết cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết và thủ tục giải quyết khiếu nại. Hơn nữa, sự phức tạp trong thủ tục pháp lý và các chi phí phát sinh cũng là những cản trở lớn đối với việc khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng. Một lẽ đương nhiên, khi người bị hại chưa lên tiếng, pháp luật và nhà nước khó can thiệp hoặc không thể giải quyết triệt để hành vi vi phạm để khôi phục quyền lợi cho họ.

Dưới góc độ pháp lý, nhà nước và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng không thể ép buộc hay kích động người tiêu dùng khởi kiện doanh nghiệp mà chỉ có thể thiết lập các cơ chế thuận lợi để quyền khởi kiện, khiếu nại của người tiêu dùng không những không bị cản trở mà còn được thực hiện một cách thuận lợi. Chúng ta cũng không nên kêu gọi ý thức cộng đồng hay ý thức xã hội trong từng cá nhân, mà cần nhận thức rằng trong thị trường, lợi ích sẽ dẫn dắt hành vi của chủ thể. Với tư cách là một chủ thể tham gia vào các quan hệ trên thị trường, người tiêu dùng luôn phải cân nhắc thiệt hơn khi quyết định khiếu nại doanh nghiệp có hành vi xâm phạm quyền lợi của họ. Thời gian và các chi phí để theo đuổi một vụ việc có thể sẽ làm giảm quyết tâm khiếu nại nếu như các khoản bù đắp khi thắng kiện không tương xứng hoặc không thỏa đáng với những gì đã phải bỏ ra cho vụ kiện. Trong điều kiện hiện tại, nếu sử dụng quyền khiếu nại của mình, người tiêu dùng thường gặp phải thái độ trây ỳ, chậm giải quyết của doanh nghiệp nhằm kéo dài thời gian. Mặt khác, khi sử dụng quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi thì người tiêu dùng phải đối diện với các thủ tục phức tạp, không tương xứng với mức độ thiệt hại. Chỉ cần dùng một phép tính đơn giản, bất kỳ ai cũng có thể nhận ra rằng tiêu tốn thời gian và tiền bạc cho việc đòi bồi thường các khoản thiệt hại không đáng kể là thiếu khôn ngoan. Với tâm lý đó, người tiêu dùng Việt Nam dễ dàng bỏ qua những tình huống bị doanh nghiệp lừa dối trong quảng cáo, trong tiêu dùng hàng ngày vì giá trị thiệt hại không đáng kể. Vì thế, giải pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là thông báo và mong chờ vào lương tâm của doanh nghiệp vi phạm. Một số không nhiều có cơ hội được các phương tiện truyền thông bảo vệ tạo nên dư luận ép buộc doanh nghiệp khôi phục quyền lợi cho người bị hại. Vai trò của tòa án và các cơ quan hữu quan khác khá mờ nhạt so với thực trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Để giải quyết tình trạng trên, chúng tôi cho rằng, quy trình giải quyết khiếu nại trong Luật BVNTD cần được xây dựng theo hướng tinh giảm, gọn nhẹ. Nếu nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng được giao cho Tòa án, pháp luật nên áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn để không làm trầm trọng hơn tình trạng thiệt hại của người khiếu nại. Mặt khác, trách nhiệm bồi thường của người vi phạm không chỉ giới hạn trong các khoản thiệt hại do hành vi vi phạm trực tiếp gây ra mà cần bao gồm những chi phí phát sinh cho người tiêu dùng do phải theo đuổi vụ việc như chi phí thuê luật sư, các khoản thu nhập chính đáng và hợp lý …

2. Các quy định về xử lý các vi phạm của doanh nghiệp cần lưu ý đến chủ thể thực hiện hành vi

Cách tiếp cận của pháp luật hiện hành là cố gắng liệt kê đầy đủ những kiểu vi phạm và dự liệu mức xử lý thích đáng. Điều 7 Pháp lệnh đã liệt kê bốn loại hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là sản xuất kinh doanh hàng cấm, hàng giả; sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, trái với thuần phong mỹ tục; thông tin quảng cáo sai sự thật; các hành vi vi phạm khác nhằm lừa dối người tiêu dùng. Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp luật trong các lĩnh vực cạnh tranh, khuyến mại, quảng cáo … có các quy định nghiêm cấm hành vi của các tổ chức, cá nhân kinh doanh xâm phạm lợi ích người tiêu dùng. Trong tương lai, khi xây dựng Luật BVNTD, có lẽ ban soạn thảo sẽ cố gắng bổ sung thêm và làm rõ về từng hành vi vi phạm. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, bên cạnh những nỗ lực xây dựng các quy định đầy đủ và rõ ràng về vấn đề này, pháp luật cũng cần phân hóa cách xử lý theo đối tượng thực hiện hành vi. Với những đối tượng khác nhau, cách thức vi phạm, mức độ và phạm vi xâm hại sẽ khác nhau nên cách thức xử lý không thể giống nhau. Dưới góc độ cạnh tranh, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam đang bị phân hóa theo mức độ và khả năng chi phối thị trường. Thực tế và lý luận đã cho thấy, vị trí của người tiêu dùng trước doanh nghiệp giảm dần khi khả năng chi phối thị trường tăng lên. Trước những doanh nghiệp có quyền lực thị trường, người tiêu dùng luôn yếu thế do thiếu kinh nghiệm và bị hạn chế quyền lựa chọn. Nhu cầu của họ bị lệ thuộc vào mức độ cung ứng của doanh nghiệp. Thế nên, phản ứng của tập thể và của từng cá nhân người tiêu dùng cũng yếu ớt và mờ nhạt hơn trước sự vi phạm của nhà độc quyền hoặc thống lĩnh so với vi phạm của các doanh nghiệp bình thường. Thậm chí, có thể xuất hiện những thái độ bất chấp dư luận của các doanh nghiệp độc quyền hoặc thống lĩnh.

Đâu đó đã có hiện tượng doanh nghiệp tận dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền để bóc lột người tiêu dùng. Thậm chí, một vài doanh nghiệp còn khai thác cơ chế chủ quản để hợp pháp hóa hoặc duy trì những điều kiện giao dịch không có lợi cho người tiêu dùng … Qua các vụ việc về hành vi làm sai lệch cơ chế đo lường của điện kế điện tử tại TP Hồ Chí Minh, của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, liên minh duy trì giá vận tải của các doanh nghiệp taxi, các doanh nghiệp vận tải hành khách, vận tải hàng hóa … cho thấy phạm vi chịu thiệt hại khá lớn và mức độ thiệt hại không nhỏ. Nguy hại hơn là lòng tin của người dân vào năng lực quản lý của Nhà nước có phần suy giảm. Cơ chế xử lý vi phạm sẽ không có được kết cục tốt đẹp cho xã hội nếu được áp dụng chung cho mọi loại doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có hay không có quyền lực thị trường. Với khả năng chi phối thị trường, các tập đoàn, nhóm doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thống lĩnh, doanh nghiệp độc quyền hoàn toàn có đủ điều kiện tác động đến quyết định của người tiêu dùng bởi nhu cầu của họ đang bị lệ thuộc vào doanh nghiệp. Chưa kể đến khả năng doanh nghiệp sử dụng các quan hệ có sẵn chi phối các quyền định của người có thẩm quyền xử lý.

Như vậy, việc xử lý các hành vi vi phạm đơn lẻ của một vài doanh nghiệp sẽ đơn giản hơn so với các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc so với việc xử lý các thỏa thuận bóc lột người tiêu dùng của nhiều doanh nghiệp hoạt động trên cùng thị trường liên quan. Khi quyền lựa chọn còn trong tay người tiêu dùng, sự phản ứng của tập thể có thể là cơ chế tự vệ hiệu quả. Ngược lại, người tiêu dùng sẽ không còn khả năng tự vệ khi bị mất quyền lựa chọn. Với cùng một hành vi, mức độ và phạm vi thiệt hại sẽ khác nhau tùy theo người thực hiện có hoặc không có vị trí thống lĩnh thị trường. Thế nên, pháp luật khó phát huy được giá trị điều chỉnh nếu quy trình xử lý, thẩm quyền xử lý và các biện pháp xử lý không phân hóa theo chủ thể vi phạm. Một mức xử phạt nào đó có thể đủ để răn đe đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng lại không có tác dụng khi áp dụng cho doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền.

Với những lập luận trên, chúng tôi cho rằng, trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng không thể trao tuyệt đối cho một đạo luật và một cơ quan duy nhất nào đó. Cần có sự phối hợp nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau để xử lý vi phạm tùy theo đối tượng thực hiện hành vi, đặc biệt phải lưu ý đến quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật về bảo về quyền lợi của người tiêu dùng. Luật Cạnh tranh với các thiết chế đặc dụng có thể điều tiết và xử lý hành vi của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp độc quyền và các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Hiện nay, các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh cũng đã quan tâm đến việc bảo vệ người tiêu dùng bằng các quy định cấm đoán các hành vi ấn định giá mua, giá bán bất hợp lý, ấn định giá bán lại; hành vi phân chia thị trường để tạo lập vị thế độc quyền cục bộ; hành vi chi phối cung cầu của thị trường … Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hành vi bị bỏ sót như phân biệt đối xử hoặc áp đặt các điều kiện mua bán hoặc các nghĩa vụ không liên quan đến đối tượng của hợp đồng mà người bị thiệt hại là người tiêu dùng. Vì thế, bên cạnh việc xây dựng luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chúng ta cần phải rà soát các các quy định của Luật Cạnh tranh (tương tự với những văn bản khác có liên quan) để phát huy hiệu quả của cả hệ thống pháp luật trong việc duy trì sự công bằng cho người tiêu dùng.

3. Nhà nước cần sòng phẳng với người tiêu dùng

Các quyền cơ bản của người tiêu dùng đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận trong Chương II (từ Điều 08 đến Điều 13) Pháp lệnh. Với quyền được thông tin, người tiêu dùng phải được cung cấp thông tin trung thực về sản phẩm đang lưu hành hợp pháp trên thị trường. Trong bối cảnh việc quản lý của Nhà nước đang can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh như hiện nay, việc đảm bảo cung cấp thông tin cho người tiêu dùng không chỉ là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà còn là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan. Tuy nhiên, dường như pháp luật hiện hành đang chỉ tập trung truy cứu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh khi cung cấp thông tin không trung thực cho người tiêu dùng mà chưa có những chế tài và xây dựng trách nhiệm bồi hoàn của Nhà nước, khi người gây ra thiệt hại là các cơ quan có thẩm quyền do có hành vi cung cấp thông tin gian dối hoặc không cung cấp thông tin kịp thời (đôi khi có hành vi ém thông tin). Trên thực tế, đã xuất hiện nhiều vụ việc xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng mà người vi phạm là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vụ việc về các thông tin mắm tôm có chứa vi khuẩn gây tiêu chảy cấp, vụ việc Thanh tra Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh không cung cấp thông tin về nước tương có chất gây ung thư… là những điển hình. Trong các vụ việc trên, có lẽ do chưa có cơ chế hợp lý nên người tiêu dùng đã không lên tiếng đòi những cơ quan trên bồi hoàn thiệt hại và không có những khảo sát, tính toán về thiệt hại mà xã hội đang gánh chịu. Dù sao chăng nữa, quyền được thông tin của người tiêu dùng mà pháp luật quy định đã bị xâm phạm nghiêm trọng.

Từ quan điểm về một xã hội dân sự tiến bộ, khi có hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước, người dân phải gánh chịu những chế tài cần thiết. Ngược lại, để sòng phẳng, Nhà nước cần chịu trách nhiệm trước cá nhân, tổ chức về hành vi vi phạm pháp luật do chính mình xây dựng, trong đó bao gồm những hành vi vi phạm quyền lợi hợp pháp của người dân – người tiêu dùng. Mặt khác, một khi Nhà nước tự nhận trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng thì cũng phải sẵn sàng chịu trách nhiệm trước xã hội và từng cá nhân người tiêu dùng nếu các cán bộ nhà nước lạm dụng trách nhiệm hoặc thiếu trách nhiệm gây thiệt hại. Có lẽ, trong giai đoạn trước mắt, khó có thể trao cho ban soạn thảo Luật BVNTD nhiệm vụ xây dựng cơ chế truy cứu trách nhiệm của Nhà nước khi có hành vi vi phạm quyền hợp pháp của người tiêu dùng vì công việc này đòi hỏi sự nghiên cứu toàn diện và phức tạp. Tuy nhiên, điều đơn giản có thể làm được là sự ghi nhận trách nhiệm tôn trọng quyền của người tiêu dùng không chỉ của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà còn của các cơ quan, các cán bộ nhà nước và mọi tổ chức có liên quan. Từ trách nhiệm này, các lĩnh vực pháp luật khác có thể hỗ trợ để truy cứu người vi phạm, trong đó có pháp luật về bồi thường nhà nước.

4. Người tiêu dùng cần được khuyến khích tự thành lập các tổ chức của riêng mình

Bên cạnh việc tích cực phát huy và bảo vệ quyền được lựa chọn của người tiêu dùng, pháp luật cần tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để người tiêu dùng tự thành lập các tổ chức của riêng họ. Trong đó, có một số yêu cầu sau đây cần được tôn trọng:

Một là, về nguyên tắc, khi thành lập các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng không nên đặt người tiêu dùng vào vị trí của đối tượng được bảo vệ thụ động mà cần phát huy vai trò tích cực, chủ động của từng cá nhân người tiêu dùng. Các tổ chức của người tiêu dùng không nên có nhiệm vụ chính trị mà chỉ có vai trò cùng với các thành viên lên tiếng trước Nhà nước và công luận về các hành vi vi phạm của doanh nghiệp; là diễn đàn để thông tin và giúp tập thể người tiêu dùng thực hiện các quyền cơ bản của họ, thậm chí kêu gọi các thành viên tẩy chay một sản phẩm, một doanh nghiệp cụ thể nếu có thái độ không thiện chí trong việc phục hồi quyền lợi cho người bị thiệt hại.

Hai là, để người tiêu dùng tự thành lập các tổ chức của mình tùy theo nhu cầu hoặc sở thích, Nhà nước không nên tham gia chỉ đạo việc thành lập và hoạt động của các tổ chức này và cũng không nên xếp những tổ chức của người tiêu dùng vào nhóm các tổ chức chính trị – xã hội. Chỉ khi người tiêu dùng tự thành lập nên các tổ chức của riêng họ, từng cá nhân người tiêu dùng với vai trò là thành viên sẽ tích cực tham gia xây dựng và phát triển tổ chức. Ngược lại, các tổ chức của người tiêu dùng sẽ tích cực và triệt để tham gia vào các vụ việc khiếu nại, khởi kiện về hành vi vi phạm khi người chịu thiệt hại là thành viên của họ. Trong pháp luật hiện hành, Điều 11 Pháp lệnh quy định người tiêu dùng được thành lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Nghị định 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh lại quy định khá đơn giản về thủ tục thành lập các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Theo đó, tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được phép đăng ký hoạt động tại ủy ban nhân dân địa phương các cấp. Với quy định đơn giản đó, quyền lập hội không thể được thực hiện trên thực tế, bởi người tiêu dùng không nhận biết được những công việc cần thực hiện, nội dung của hồ sơ lập hội và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký cho hội bảo vệ người tiêu dùng. Thực tiễn đang cho thấy, phần lớn tổ chức bảo vệ người tiêu dùng đang hoạt động không do người tiêu dùng thành lập. Ví dụ, Hội Khoa học kỹ thuật về tiêu chuẩn hóa, chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (tên giao dịch là VINATAS) là một tổ chức tự nguyện được thành lập bởi những người hoạt động trong các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa, chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng. Nhiệm vụ cơ bản của tổ chức này là các thành viên giúp nhau nâng cao trình độ nghề nghiệp, xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa chất lượng và góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng[3]. Với nhiệm vụ trên, vai trò của VINATAS chủ yếu thể hiện ở việc đảm bảo quyền lợi của các thành viên tham gia. Thông qua những kết quả hoạt động như áp dụng các giải pháp để nâng cao chất lượng hoặc tiêu chuẩn hóa kỹ thuật … sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nói chung. Tương tự, với những tổ chức khác, người tiêu dùng chỉ là đối tượng được bảo vệ mà chưa là thành viên. Vì thế, các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng hiện nay chưa thực sự phát huy được vai trò và chưa thực hiện trọn vẹn sứ mệnh đã đề ra. Thái độ lãnh đạm của người tiêu dùng trước sự tồn tại của các tổ chức này là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng trên.

Hiện nay, nhu cầu tự lập hội đang phát triển bằng sự xuất hiện của những nhóm người có chung sở thích đối với một sản phẩm hoặc có chung một nhu cầu sử dụng … Tuy nhiên, dù hoạt động có tổ chức, song các nhóm nói trên vẫn chưa thể là đại diện cho thành viên trong các tranh chấp về quyền lợi của người tiêu dùng do chưa có cơ hội được đăng ký hoạt động để mang tư cách pháp lý cần thiết. Cho dù số lượng thành viên không lớn, song nếu biết ghi nhận và phát triển, pháp luật có thể tạo điều kiện cho các nhóm người trên tự bảo vệ quyền lợi của họ một cách hiệu quả. Thế nên, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cần xây dựng quy trình pháp lý để người tiêu dùng có thể thực hiện quyền được lập hội một cách thuận lợi. Có như vậy, cùng với sự tăng trưởng của thị trường và xã hội, ý thức vì cá nhân và cộng đồng của người tiêu dùng sẽ phát triển ở những mức độ tương xứng.

Với những kỳ vọng về một tương lai tốt đẹp và văn minh, các lực lượng tham gia thị trường đang đặt ra nhiều yêu cầu làm định hướng cơ bản cho sự phát triển và hoàn thiện của pháp luật. Việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đang trên lộ trình đó. Có lẽ, gần mười năm có hiệu lực của Pháp lệnh, di sản lớn nhất là sự ghi nhận các quyền cơ bản của người tiêu dùng. Còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra cho ban soạn thảo Dự án Luật BVNTD.

——————————

[1] Nguyễn Như Phát, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân, H, 2003, tr 10.

[2] Điều 17 Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 2/10/2001 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

[3] Điều 1, 2 Bản điều lệ của Hội Khoa học kỹ thuật về tiêu chuẩn hóa, chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam được thông qua ngày 28/04/2000.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nguoi-tieu-dung-va-phap-luat-bao-ve-nguoi-tieu-dung

PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. BÙI SĨ HIỂN – Bộ Xây dựng

Có một thực tế hiện nay là số lượng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta nhiều nhưng rất chồng chéo, thiếu tính đồng bộ, hệ thống. Quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư xây dựng nói riêng, vẫn đang bộc lộ nhiều yếu kém. Phân tích về thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế này, tác giả cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần ban hành Luật Đầu tư xây dựng và quan trọng hơn là thực thi chúng một cách nghiêm chỉnh, minh bạch, tạo lực đẩy mới cho mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng ở nước ta.

Hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay đang được điều chỉnh bằng nhiều văn bản ở các cấp độ pháp lý khác nhau. Trong khi nội dung các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành chưa bao quát một cách có hệ thống, đồng bộ và đầy đủ các hoạt động đầu tư xây dựng trong nước, khi chúng ta chưa có Luật Đầu tư để áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Nghị quyết số 36/2004/QH11 về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước và Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được xem là những văn bản có tính pháp lý cao nhất, cùng với các văn bản khác do các bộ, ngành và địa phương ban hành, đã tạo thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng làm cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài thực hiện việc đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trên phạm vi cả nước. (Xem hộp 1)
Hộp 1

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000, Nghị định số 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003, Nghị định số 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998.

Hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn vốn trong nước được điều chỉnh bởi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Nghị định ố 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, thay thế các quy định về hoạt động xây dựng tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo các Nghị định của Chính phủ: số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999, số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/05/2000, số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003; thay thế các nội dung về đấu thầu xây dựng quy định tại Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo các Nghị định của Chính phủ: số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999, số 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 và số 66/2003/NĐ- CP ngày 12/6/2003.

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam được điều chỉnh bởi Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999. Chính phủ ban hành các Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2001 v/v ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Nghị định số 77/1997/NĐ-CP ngày 18/6/1997 v/v quản lý đầu tư theo hình thức BOT trong nước; Nghị định số 36/1997/NĐ-CP ngày 24/4/1997 v/v ban hành Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Khu công nghệ cao; Nghị định 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 thay thế Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Nghị quyết số 01/2005/NQ-CP (Phần II) ngày 14/01/2005 v/v nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư.

Tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá XI thông qua Nghị quyết số 36/2004/QH11 về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước, v.v

1. Những mục tiêu đạt được.

Một số mục tiêu chủ yếu đã đạt được trong tổ chức quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng là:

Một là, tạo điều kiện đưa hoạt động đầu tư xây dựng trong cả nước đi vào trật tự và thích ứng với nền kinh tế thị trường mở cửa, hợp tác và hội nhập. Khuyến khích nhiều thành phần kinh tế huy động các nguồn lực đầu tư phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ phát triển, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra. Tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư nhà nước đúng mục tiêu, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, phát huy được hiệu quả, góp phần xoá đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Hai là, từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch ngành và quy hoạch vùng lãnh thổ; góp phần cải tiến công tác kế hoạch hoá theo hướng gắn với các yếu tố thị trường, tăng thêm quyền tự chủ cho các cơ sở và doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước vào quá trình đầu tư.

Ba là, góp phần cải cách một bước các thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư, thực hiện phân cấp, giao quyền, tạo chủ động mạnh hơn cho các bộ, ngành và địa phương về thẩm quyền và trách nhiệm trong việc quyết định chủ trương và phê duyệt dự án đầu tư cũng như bố trí vốn đầu tư thực hiện các công trình dự án không phân biệt dự án nhóm A, B, C.

Trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình, các cơ quan quản lý nhà nước không còn trực tiếp quyết định đầu tư các dự án mang tính sản xuất – kinh doanh. Nhà nước chỉ thực hiện cơ chế giám sát, kiểm tra, đánh giá, quản lý đầu tư theo quy hoạch. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng không phải là làm một dự án đầu tư cụ thể, mà phải quản lý cả xã hội trong hoạt động đầu tư, phải nghĩ ra những cách thức phù hợp nhằm cải thiện tình hình xã hội trong hoạt động đầu tư. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng là làm ra pháp luật về đầu tư xây dựng, tạo ra khung pháp lý, đưa ra các tiêu chuẩn, quy phạm, tiêu chí về đầu tư, chất lượng, tiến độ, tiền vốn, tổ chức bộ máy… giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, giám sát và chấn chỉnh toàn bộ quá trình đầu tư từ khâu quy hoạch, kế hoạch đến khâu thực hiện các dự án đầu tư cụ thể và đồng thời, phải hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng trong toàn xã hội (1).

2. Những mặt hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn quá trình thực hiện đầu tư xây dựng những năm qua cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề cần phải được xem xét, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng được yêu cầu về quản lý đầu tư xây dựng giai đoạn hiện nay. Điều đó thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau đây:

Một là, các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng thời gian qua, chủ yếu là văn bản dưới luật, trong đó không ít nội dung quy định chưa nhất quán, chưa đủ cụ thể, thiếu các chế tài đủ mạnh, thậm chí còn nhiều nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, chắp vá, thiếu thống nhất, đồng bộ và không ổn định. Chỉ trong một thời gian ngắn (hơn 20 năm), trong một lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng, đã có tới 08 văn bản quy phạm pháp luật ở cấp Chính phủ được lần lượt ban hành, bổ sung thay thế cho nhau, chưa kể đến sự thay đổi, thay thế của các quyết định, thông tư và chỉ thị của các bộ, ngành và địa phương ban hành liên quan đến đầu tư xây dựng. Việc thay đổi, thay thế này, mặt tốt, làm cho pháp luật kịp thời phù hợp với tình hình mới, song cũng gây nên tình trạng bất ổn định trong quá trình quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật.

Hai là, việc thực hiện phân cấp, giao quyền là nhằm tạo chủ động nhiều hơn cho các bộ, ngành, địa phương trong quyết định chủ trương và phê duyệt dự án đầu tư; yêu cầu đầu tư phải quyết liệt, tập trung, đúng thời cơ, đúng tiến độ, tiết kiệm, hiệu quả cao, ngăn chặn lãng phí, thất thoát và phù hợp với tiến trình cải cách hành chính của đất nước. Những nội dung nêu trên, cần được hoàn thiện hơn cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng, một mặt, tạo ra sự thông thoáng về cơ chế, đơn giản hóa về thủ tục, mặt khác, bảo đảm sự đối xử công bằng giữa các thành phần kinh tế, bảo đảm công khai, minh bạch, rõ ràng, chặt chẽ và có hiệu quả đối với từng nhiệm vụ quản lý cụ thể. Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng thời gian qua chưa đáp ứng của yêu cầu này, cụ thể là :

- Chưa phân biệt rõ nội dung quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp (quản lý vĩ mô và quản lý tác nghiệp) về đầu tư xây dựng; chưa làm rõ yêu cầu về quản lý đầu tư đối với doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hiện nay chưa rõ ràng, cụ thể, chưa đề cao trách nhiệm các bộ, ngành và địa phương, nhất là về trách nhiệm cá nhân.

- Chưa quy định đầy đủ và chưa phân định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia quá trình đầu tư xây dựng: giữa chủ đầu tư, người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức tư vấn, nhà thầu, ban QLDA, các cơ quan chức năng trong những khâu cụ thể của quá trình quản lý đầu tư như: quy hoạch, kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư (thiết kế, quản lý dự án, đấu thầu, thanh quyết toán vốn đầu tư, v.v). Những quy định này trong các văn bản hiện hành vừa thừa, vừa thiếu, lại vừa yếu.

- Chưa làm rõ tiêu chí, tiêu chuẩn, chuẩn mực để phân bổ nguồn lực; chưa quy định rõ phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương phù hợp với cơ chế thị trường; chưa công khai hoá hoạt động đầu tư trong các khâu của quá trình đầu tư, đặc biệt là công khai tài chính đối với việc phân bổ, quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước.

- Chưa chú ý tới tính chuyên nghiệp hoá của tổ chức tư vấn trong quản lý đầu tư xây dựng phù hợp với hai hình thức quản lý dự án hiện hành; chưa chú ý đúng mức tới việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ tư vấn đầu tư và quản lý hoạt động tư vấn xây dựng; thiếu các quy định cụ thể về việc sử dụng tư vấn chuyên nghiệp trong các khâu chuẩn bị đầu tư, thẩm định, quản lý dự án, giám sát, đánh giá đầu tư; thiếu các quy định bảo đảm tính độc lập, khách quan, cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tư vấn, nhà thầu trong việc tham gia vào quá trình đầu tư.

- Các quy định trong quy chế về quản lý đầu tư và xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính về phân cấp, giao quyền, về bộ máy quản lý ở các cấp, về quy trình, thủ tục, kỷ cương hành chính trong quản lý đầu tư xây dựng. Hiện tại, việc phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư triệt để, song phân cấp quản lý về phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, thiết kế, dự toán, môi trường… còn nhiều bất cập, chưa tạo điều kiện chủ động cho các cấp, các nhà đầu tư.

Ba là, việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật và pháp luật trong đầu tư xây dựng chưa nghiêm túc, thể hiện sự buông lỏng trong quản lý. Nhiều cán bộ quản lý – điều hành thiếu trách nhiệm, kém phẩm chất, lợi dụng chức trách, nhiệm vụ bớt xén, tham nhũng, gây thất thoát tiền của nhân dân, làm giảm chất lượng công trình. Tình trạng đầu tư dàn trải tích tụ nhiều năm chưa được khắc phục gây lãng phí lớn và dẫn đến hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư chưa cao, đặc biệt là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Việc sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lãng phí thất thoát nhiều đã và đang diễn ra mang tính phổ biến trong thời gian qua, năm sau tăng nhiều hơn năm trước, nhưng chưa được phát hiện, báo cáo kịp thời và chưa có đủ chế tài đủ mạnh để xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm.

Bốn là, tình trạng khép kín trong quá trình đầu tư ở các bộ, ngành và địa phương còn khá phổ biến. Một số nội dung đã được đề cập trong pháp luật hiện hành về dân chủ, công khai trong quản lý về quy hoạch, kế hoạch, cân đối và phân bố các nguồn lực (tài nguyên, đất đai, tiền vốn, lao động, trí tuệ…), quản lý khai thác các dự án, nhưng chưa có các tiêu chí cụ thể.

Năm là, pháp luật về đầu tư nước ngoài của chúng ta thay đổi quá nhiều, thiếu ổn định.

Chỉ từ năm 1987 đến năm 2000, đã có 4 lần sửa đổi, bổ sung mà vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Đầu tư quốc tế vào lĩnh vực xây dựng thời gian qua chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức đầu tư nước ngoài vào nước ta, chủ yếu là vào các công trình theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các nhà thầu nước ngoài vào nhận thầu xây dựng và/hoặc tư vấn xây dựng công trình tại Việt Nam ngày càng nhiều, phù hợp với xu thế tiến tới hội nhập, song, các văn bản pháp luật về lĩnh vực này còn thiếu và chất lượng chưa cao, tạo tư tưởng không yên tâm của nhà đầu tư nước ngoài, gây tâm lý nhà đầu tư hiện nay là phải thăm dò, chờ đợi …

3. Nguyên nhân chủ yếu

Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong quản lý đầu tư xây dựng là:

- Chất lượng các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng còn nhiều bất cập;

- Việc thực hiện các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng chưa nghiêm;

- Công tác quản lý đầu tư xây dựng ở các ngành, các cấp, ở nhiều cán bộ còn nhiều yếu kém;

- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá về đầu tư xây dựng chưa được triển khai tốt ở các cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp và địa phương.

4. Một số giải pháp

Ban hành Luật Đầu tư xây dựng chung

Trên cơ sở xác định và phân định rõ chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ, giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý đầu tư xây dựng; tách bạch rõ ràng và rành mạch hơn nữa nội dung giữa quản lý hành chính nhà nước và quản trị kinh doanh ở doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư xây dựng; quy định rõ hơn nữa việc phân cấp, giao quyền , trách nhiệm của từng chủ thể tham gia quá trình đầu tư, cần phải triển khai ngay việc tổng rà soát, đánh giá lại và hệ thống hoá các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, hình thành một hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng đầy đủ hơn, thống nhất hơn, đồng bộ hơn, có tính pháp lý cao hơn, sát hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội, phù hợp với luật pháp về đầu tư xây dựng quốc tế hiện nay. Trước hết, cần có một văn bản riêng biệt ở cấp độ luật về đầu tư xây dựng để tạo "sân chơi chung" cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động. Trong đạo luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định rõ một số vấn đề quan trọng sau đây :

- Đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Cần quy định công tác kế hoạch hoá đầu tư xây dựng cơ bản như một chế định đặc biệt trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng ở giai đoạn trước khi chuẩn bị đầu tư. Kế hoạch hóa đầu tư xây dựng được coi là một công cụ quản lý đầu tư quan trọng nhằm bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Kế hoạch phải được công khai hóa để nhân dân biết, theo dõi, giám sát trong quá trình thực hiện đầu tư. Cũng cần quy định rõ nội dung và trình tự của công tác kế hoạch đầu tư, trong đó quy định rõ những vấn đề liên quan đến việc cấp phát vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm đầu tư tập trung, đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm đầu tư có hiệu quả.

Cần có những quy định cụ thể ngăn cấm việc cho phép đầu tư hoặc quyết định đầu tư khi chưa xác định rõ nguồn vốn, khi chưa có kết quả thẩm định dự án. Coi chỉ tiêu về số lượng công trình hoàn thành và tiến độ thực hiện các công trình là chỉ tiêu pháp lệnh trong các kế hoạch đ ầu tư. Coi chỉ tiêu về chất lượng công trình, về quy hoạch và tổng mức đầu tư là yêu cầu bắt buộc mà chủ đầu tư cũng phải chịu trách nhiệm. Cần quy định cụ thể về các nội dung liên quan đến việc chuẩn bị đầu tư đối với một dự án đầu tư cụ thể (từ khâu lập dự án, thẩm định, quyết định đầu tư…) nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của dự án; cần có tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư làm cơ sở cho việc xem xét quyết định đầu tư. Công khai, minh bạch các quy định pháp luật về đầu tư xây dựng; công khai, minh bạch quá trình quản lý đầu tư xây dựng kể từ khâu chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thẩm định, duyệt dự toán, khảo sát, thiết kế, đấu thầu đến nghiệm thu, thanh quyết toán; công khai các kết quả thanh tra, kiểm tra và kết quả xử lý qua thanh tra, kiểm tra. Cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc tham gia ý kiến về dự án đầutư xây dựng. Các dự án được quyết định đầu tư cần được công khai hoá trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư

Cần tách bạch rõ ràng và rành mạch hơn nữa nội dung giữa quản lý hành chính nhà nước và quản trị kinh doanh ở doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư xây dựng trong tất cả các khâu quản lý đầu tư xây dựng; xác định rõ ràng, cụ thể hơn nữa nội dung quản lý nhà nước và thẩm quyền quyết định đầu tư đối với từng loại dự án đầu tư mà Nghị định 16/2005/NĐ- CP đã quy định; làm rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng Bộ, giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước (bao gồm vốn ngân sách, vốn tín dụng nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước) và vốn không phải nhà nước; quy định rõ hơn nữa việc phân cấp, giao quyền, trách nhiệm (pháp lý và vật chất) của từng chủ thể tham gia quá trình đầu tư : chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn thiết kế, người thẩm định, người giám sát thi công đối với chất lượng, tiến độ, giải phóng mặt bằng, lập và duyệt thiết kế – tổng dự toán, trách nhiệm về kế hoạch vốn, đấu thầu, thi công, mua sắm, lắp đặt và hạn mức chi phí được duyệt.

Quy định về trách nhiệm và thẩm quyền quyết định đối với việc thay đổi, điều chỉnh tổng mức đầu tư trên cơ sở bảo đảm hiệu quả dự án đầu tư, điều kiện và giới hạn của việc điều chỉnh tổng mức đầu tư, vì đây là những yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình đầu tư xây dựng. Quy định khi phê duyệt điều chỉnh dự án đầu tư phải tiến hành giám sát, đánh giá đầu tư, xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc điều chỉnh dự án và biện pháp xử lý của các bên liên quan trước khi báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh dự án đầu tư. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm đối với việc điều chỉnh lại dự án do quyết định không đúng. Quy định lộ trình loại bỏ dần tình trạng khép kín trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cũng cần quy định rõ việc chấm dứt vĩnh viễn tình trạng các bộ quản lý ngành giới thiệu nhà thầu. Quy định cụ thể hơn nữa việc đấu thầu chọn chủ đầu tư, tư vấn quản lý dự án. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm về các sai phạm trong quá trình thực hiện dự án đầu tư của nhà thầu do mình chỉ định thầu.

- Đối với chủ đầu tư và ban quản lý dự án (đại diện chủ đầu tư)

Trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng, cần quy định rõ Chủ đầu tư đối với các dự án công. Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước không được làm chủ đầu tư đối với các dự án công để tránh tình trạng cơ quan quản lý nhà nước vừa là chủ thể thực hiện vừa là đối tượng bị quản lý.

Tiêu chuẩn hoá cán bộ quản lý dự án (QLDA); điều kiện, tiêu chuẩn là ban QLDA, là chủ đầu tư; quy định năng lực và tính chuyên nghiệp của chủ đầu tư và ban QLDA, quyền hạn, trách nhiệm và năng lực cá nhân của từng cán bộ quản lý dự án. Các dự án có thể thuê ban QLDA; quy định rõ hơn trách nhiệm của chủ đầu tư và ban QLDA trong từng hình thức quản lý dự án cụ thể.

- Đối với hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng

Cần luật hoá vấn đề trách nhiệm và chế tài trách nhiệm của các tổ chức tư vấn đối với từng dịch vụ cụ thể của quá trình đầu tư: thẩm định, giám sát, đánh giá đầu tư, quản lý dự án, đặc biệt ở khâu quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp hoá công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng; luật hoá các tiêu chuẩn về năng lực, trách nhiệm nhằm bảo đảm chất lượng đội ngũ cán bộ tư vấn đầu tư xây dựng.

Cần có những quy định cụ thể chống khép kín trong đầu tư đối với hoạt động tư vấn trên nguyên tắc bảo đảm tính độc lập, khách quan trong hoạt động tư vấn, cụ thể là: các dự án của bộ, ngành này phải sử dụng tư vấn của các bộ, ngành khác trong các khâu thẩm định, giám sát đầu tư, thực hiện đầu tư xây dựng; các tổ chức tư vấn thiết kế, nhà thầu xây dựng, tư vấn giám sát của một dự án, công trình nhất thiết không được thuộc cùng một cơ quan chủ quản (bộ, ngành, tỉnh, thành phố), từng bước hình thành tổ chức tư vấn độc lập.

- Đối với hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư

Cần có quy định cụ thể về nội dung, trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánhgiá đầu tư. Việc giám sát đầu tư phải được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng với những nội dung cơ bản sau đây :

- Giám sát việc đầu tư theo đúng quy hoạch, kế hoạch; giám sát việc khai thác, vận hành dự án nhằm bảo đảm đầu tư tập trung, đúng định hướng, đúng mục tiêu, đạt hiệu quả.

- Giám sát khâu chuẩn bị đầu tư và quyết định đầu tư (lập dự án đầu tư, thẩm tra, thẩm định, quyết định đầu tư) nhằm bảo đảm thủ tục pháp lý và tính khả thi của các quyết định đầu tư.

- Giám sát việc thực hiện dự án đầu tư nhằm bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật (thủ tục xây dựng, chất lượng, tiến độ, giải phóng mặt bằng, thực hiện phương án tái định canh, định cư, ổn định đời sống nhân dân; tổ chức đấu thầu, hoạt độngxây lắp, mua sắm, giới hạn chi phí dự án…).

- Đối với các chế tài xử lý vi phạm

Cùng với việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, bộ, ngành và địa phương trong cơ chế quản lý đầu tư xây dựng, cần quy định bổ sung đầy đủ các chế tài đủ mạnh đối với tất cả các khâu của quá trình đầu tư nhằm nâng cao trách nhiệm và xử lý kịp thời các sai phạm trong quản lý đầu tư, đồng thời khuyến khích, động viên các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt pháp luật về đầu tư xây dựng, bảo đảm hoạt động đầu tư đúng pháp luật, có hiệu quả, ngăn chặn thất thoát, lãng phí. Quy định về trách nhiệm cá nhân của người quyết định đầu tư theo hướng :

- Chỉ quyết định đầu tư các dự án khi đã xác định rõ nguồn vốn, khi đã có kết quả thẩm định dự án, đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm hiệu quả và không trái với các quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng.

- Người quyết định đầu tư không được kiêm nhiệm làm chủ đầu tư dự án. Người quyết định đầu tư sẽ phải xử phạt hành chính, cách chức, miễn nhiệm và chịu trách nhiệm (pháp lý, vật chất) khi quyết định những dự án đầu tư sai, gây lãng phí tiền bạc của Nhà nước.

- Người có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm đối với việc điều chỉnh lại dự án do quyết định không đúng, không để tình trạng người quyết định đầu tư sai nhưng vẫn đứng ngoài cuộc như hiện nay.

Đổi mới quy trình soạn thảo, cơ chế thẩm tra, thẩm định và thực thi pháp luật về đầu tư xây dựng

Cần đổi mới quy trình soạn thảo, thẩm định trước khi trình ký ban hành văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng. Chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó yếu tố tuân thủ quy trình từ việc hoạch định chương trình, kế hoạch xây dựng văn bản cho đến việc soạn thảo, thẩm tra, thẩm định, xem xét thông qua và ban hành, công bố văn bản… có vai trò rất quan trọng.

Nhằm nâng cao chất lượng văn bản pháp luật nói chung, trong đó có văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng nói riêng, cần nhanh chóng đổi mới quy trình soạn thảo, thẩm tra, thẩm định trước khi trình ký ban hành, khắc phục tính cục bộ, thiếu khách quan trong việc chuẩn bị văn bản, đề cao trách nhiệm của từng cơ quan, đặc biệt là cơ quan có thẩm quyền thẩm định pháp lý trong quá trình xây dựng và trình ký ban hành, phát huy tính dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản ngay trong quá trình soạn thảo. Cần có những văn bản quy phạm xác định nguyên tắc và cơ chế pháp lý bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của nhân dân, của đội ngũ cán bộ công chức, các nhà khoa học, các chuyên gia và mọi lực lượng xã hội vào quá trình xây dựng và trình ban hành văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng, theo đó, các cơ quan nhà nước được giao chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo văn bản cần tăng cường việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân trước khi nó được trình ban hành, đặc biệt những người là đối tượng điều chỉnh của văn bản pháp luật. Công khai hoá quá trình tiếp thu ý kiến nhân dân của các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản.

Về thẩm tra, thẩm định, phải hình thành cơ chế nhằm tăng cường việc kiểm tra, thẩm định tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất đồng bộ cũng như tính khả thi và ổn định lâu dài của văn bản trước khi trình ký ban hành. Ngay trong quá trình soạn thảo, xem xét thông qua văn bản pháp luật phải khẳng định và thể chế hoá nguyên tắc: một khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định có ý kiến chưa đồng tình thông qua dự thảo văn bản, thì phải làm rõ nguyên nhân tại sao "chưa đồng tình" trước khi ký ban hành hoặc trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký ban hành. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định cấp trên (cấp Bộ Tư pháp và cấp Chính phủ) chỉ tiến hành thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng sau khi đã có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền thẩm định cùng cấp trình văn bản. Phải gắn kết trách nhiệm cụ thể của cơ quan có thẩm quyền thẩm định pháp lý văn bản với chất lượng và tính khả thi của văn bản khi được ban hành. Bảo đảm tôn trọng và thực hiện nghiêm minh pháp luật ban hành.

Xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, hợp hiến hợp pháp, ổn định lâu dài là việc đã khó, nhưng việc bảo đảm các văn bản pháp luật đó được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống còn là việc khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều. Việc tổ chức triển khai thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống là nhằm làm cho doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài khi tham gia các hoạt động đầu tư xây dựng biết luật để tự mình tổ chức công việc đầu tư xây dựng hàng ngày theo pháp luật, đồng thời để kiểm tra lại việc làm luật, thi hành và áp dụng luật của các cơ quan và cán bộ công chức nhà nước trong tổ chức quản lý nhà nước các hoạt động đầu tư xây dựng. Bằng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và thường xuyên rà soát, hệ thống hoá, nhà nước sẽ điều chỉnh nội dung các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cho sát hợp với yêu cầu đòi hỏi của quản lý, phù hợp với luật pháp quốc tế về đầu tư xây dựng, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang tiến tới hội nhập nền kinh tế quốc tế ./.

Chú thích:

1 Xem thêm Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 10 (61) – THÁNG 10/2005

ĐÔI ĐIỀU VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT THEO NGHĨA RỘNG

PHẠM THỊ DUYÊN THẢO – Khoa Luật, Đai học Quốc gia Hà Nội

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Ở một góc độ khác, hoạt động giải thích pháp luật có thể đưa ra cho văn bản một nghĩa xa hơn ý nghĩa ngôn ngữ của nó, một nghĩa mở rộng hoặc hạn chế hơn nghĩa mà ngôn ngữ của văn bản có thể mang.

1. Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là gì?

Giải thích pháp luật là cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý. Giải thích pháp luật là một cấu thành tất yếu của pháp luật, một bảo đảm đối với pháp luật. Việc tạo lập một cơ chế thích đáng cho giải thích pháp luật là mục tiêu và yêu cầu của mỗi hệ thống pháp luật, mỗi quốc gia.

Giải thích pháp luật trong thực tế được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Ở góc độ phổ biến, thông thường, góc độ hẹp hiện nay, giải thích pháp luật được xem là: "một hoạt động có lý trí đưa ra nghĩa của một văn bản pháp luật"1; là "hoạt động liên quan với việc xác định thông điệp có tính quy phạm mà nó xuất hiện từ văn bản"2; là "hoạt động để tìm ra nghĩa và hiểu rõ mục đích của tác giả văn bản pháp luật"3…(Từ đây, xin gọi giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp, nghĩa thông thường là giải thích pháp luật, để định rõ và phân biệt với giải thích pháp luật theo nghĩa rộng sẽ bàn đến sau).

Nguyên tắc bắt buộc đối với công việc giải thích pháp luật là phải mang đến được cho văn bản pháp luật một nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ của văn bản đó. Đây là điều kiện cần và đủ đối với một hệ thống giải thích pháp luật hiện tại. Bản thân hoạt động giải thích được giới hạn bằng giới hạn của văn bản, và giới hạn của văn bản phải đặt trong giới hạn của ngôn ngữ. Một hoạt động là giải thích nếu nó đưa ra nghĩa trên văn bản phù hợp với một nghĩa (rõ ràng hoặc ẩn) trong ngôn ngữ (cộng đồng hoặc cá nhân) của văn bản. Giải thích pháp luật có tác dụng trong các giới hạn của ngôn ngữ. Nó truyền đạt cho văn bản một nghĩa mà ngôn ngữ có thể mang. Hoạt động giải thích sẽ kết thúc tại "điểm cuối" của ngôn ngữ4.

Ở một góc độ khác, giải thích pháp luật được tiếp cận rộng hơn gấp nhiều lần và khác cơ bản so với giải thích pháp luật thông thường. Dưới góc độ này, hoạt động giải thích có thể đưa ra cho văn bản một nghĩa xa hơn ý nghĩa ngôn ngữ của nó, một nghĩa mở rộng hoặc hạn chế hơn nghĩa mà ngôn ngữ của văn bản có thể mang. Để làm được điều đó, người giải thích có thể tiến hành hàng loạt các thao tác mà nó sẽ trái, thậm chí phá vỡ các luật lệ của giải thích pháp luật thông thường (sẽ phân tích sau)… Đó chính là giải thích pháp luật theo nghĩa rộng. Một số học giả còn gọi cách tiếp cận giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là một học thuyết – học thuyết không giải thích (Non-interpretive Doctrines).5

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng vượt ra ngoài ngôn ngữ của văn bản, chúng mang đến cho văn bản một sự hợp lý nhất định mà đôi khi, sự hợp lý đó không có cơ sở vững chắc trong ngôn ngữ của văn bản (tất nhiên, "chuẩn mực" của sự hợp lý phụ thuộc vào truyền thống của mỗi hệ thống pháp luật, vào cơ chế giải thích pháp luật của mỗi quốc gia, và vào tính mục đích, tài năng của bản thân mỗi chủ thể giải thích pháp luật…) Nói giản đơn, công việc của giải thích theo nghĩa hẹp đưa đến nghĩa một cái gì "là"; còn giải thích theo nghĩa rộng sẽ đưa đến nghĩa từ cái gì "là" đến cái gì "không là". Ở giải thích theo nghĩa rộng, sự "có" của văn bản có thể được suy ra sự "không" của vấn đề khác. Lấy ví dụ, một mâu thuẫn giữa hai đạo luật, giải thích theo nghĩa hẹp sẽ quyết định ý nghĩa của mỗi đạo luật, rút ra hiệu lực của chúng từ các quy tắc giải thích, còn giải thích theo nghĩa rộng đưa đến cách giải quyết mâu thuẫn đó, đến khu vực chứa đựng sự mâu thuẫn.

Trong lịch sử các hệ thống pháp luật truyền thống, giải thích theo nghĩa rộng là một phần của giải thích (thông thường), mặc dù nó đi xa và vượt khỏi giới hạn của sự giải thích. Ví dụ, trong hệ thống pháp luật Anh, thẩm phán có quyền thay đổi một văn bản – để tránh những điều ngớ ngẩn – được coi là một phần của hoạt động giải thích pháp luật của thẩm phán. Trong truyền thống pháp luật Đức thì lấp đầy một khoảng trống cũng được coi là hoạt động giải thích (theo nghĩa rộng).

2. Nội dung của giải thích pháp luật theo nghĩa rộng

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là một hoạt động đa dạng và phức tạp. Sự đa dạng, phức tạp chứa đựng ngay trong nội dung của nó.

Lấp đầy các khoảng trống trong văn bản

Lấp đầy các kẽ hở trong văn bản là hoạt động khác biệt cơ bản so với giải thích pháp luật thông thường. "Giải thích là cung cấp nghĩa cho các quy phạm, còn lấp đầy kẽ hở là thêm ngôn ngữ vào văn bản, thêm quy phạm cho văn bản"6. Trên thế giới, cách tiếp cận với các văn bản là đối tượng của giải thích pháp luật tương đối bao quát, nó có thể là hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật, di chúc, hợp đồng…, tức là tất cả các văn bản, nếu nó liên quan đến cách thức làm cho việc hiểu, thực hiện pháp luật trong cuộc sống được thống nhất, hợp pháp và hợp lý.

Khi nào thì một văn bản có kẽ hở? Thứ nhất, khi văn bản chứa đựng những hàm ý mà có thể làm rõ bằng sự giải thích thông thường; thứ hai, khi văn bản không đề cập đến một vấn đề mà nó không lưu tâm; thứ ba, khi sự cung cấp của văn bản đến vấn đề mà nó lưu tâm gây ra sự thiếu sót đối với các vấn đề mà nó không lưu tâm; và thứ tư, khi có sự thiếu khuyết thực sự của văn bản, bản thân văn bản không đủ để điều chỉnh những vấn đề nhất định mặc dù nó tương đối rõ ràng hoặc chắc chắn…7 Và giải thích theo nghĩa rộng cho phép lấp đầy các kẽ hở như vậy trong văn bản.

Việc lấp đầy các khoảng trống trong luật: Ở thế kỷ 19, trong hệ thống pháp luật Anglo-Saxon, các thẩm phán đã có được quyền này trong việc lấp đầy các khoảng trống trong luật khi giải quyết vụ việc. Hiện nay, tòa án không được làm như vậy, mà họ phải sử dụng "cái tổ an toàn" của thông luật để giải quyết trong những trường hợp ngôn ngữ của một đạo luật không tương xứng để biểu đạt được mục đích của đạo luật đó8.

Pháp luật Anh cho phép lấp đầy khoảng trống trong luật đối với các trường hợp được bao hàm bởi các quy tắc pháp luật thông thường.

Việc lấp đầy kẽ hở trong hợp đồng: Kẽ hở trong hợp đồng tạo nên tình trạng không đầy đủ, thiếu thông tin và mâu thuẫn với mục đích của nó. Thông thường một kẽ hở trong hợp đồng được lấp đầy bằng các luật lệ ngầm định, phong tục hoặc tập quán, tất nhiên hiệu quả chung trong những trường hợp này là không lớn, nên trong thực tế các nguồn trên được sử dụng như một sự hướng dẫn.

Nguồn thứ hai bên cạnh các luật lệ ngầm định, phong tục hoặc tập quán để giải quyết, trong luật lệ của Anh còn có các "điều khoản mặc nhiên", tức là việc lấp đầy khoảng trống trong hợp đồng là cần thiết cho hiệu quả và là bổn phận của hợp đồng mà các bên đảm nhiệm9.

Luật pháp của Mỹ cũng đã sử dụng các điều khoản hàm ý này, hiện nay thì đã có sự thay đổi, tuy nhiên gần đây, các học giả Mỹ cũng có lưu tâm đến việc sử dụng các "luật lệ ngầm định" để lấp đầy khoảng trống trong hợp đồng10.

Ở một vài quốc gia như Đức, Bồ Đào Nha, Pháp, các thẩm phán được phép lấp đầy các khoảng trống dựa trên các nguyên tắc của tính trung thực, nguyên tắc sự tin tưởng trong luật dân sự để lấp đầy các khoảng trống trong hợp đồng. Hệ thống pháp luật của Thụy Sỹ ủy quyền cho một thẩm phán lấp đầy khoảng trống theo mục đích khách quan của các bên nếu các bên thật thà, trung thực và dựa trên các nguyên tắc của công lý11.

Cách tiếp cận khác của Unidroit, "nếu các bên không đồng ý một giới hạn quan trọng đối với các quyền và nghĩa vụ của họ, tòa án sẽ bổ sung vào hợp đồng một giới hạn phù hợp với tình huống liên quan"12.

Về việc lấp đầy các khoảng trống trong di chúc: Truyền thống Đức đã từng cho phép lấp đầy khoảng trống trong di chúc. Tòa án Israeli có quy định rõ ràng việc thẩm phán được lấp đầy các khoảng trống trong văn bản, trong đó có di chúc.

Giải quyết mâu thuẫn mang tính quy phạm

Sự thống nhất trong hệ thống pháp luật là một yêu cầu quan trọng. Các quy tắc trong một hệ thống pháp luật phải nằm trong mối liên hệ và không được mâu thuẫn với nhau. Nhưng trong thực tế, ít có hệ thống pháp luật nào đạt được như vậy. Các quy tắc đối lập và mâu thuẫn với các nguyên tắc của luật lệ và với bản thân các quy tắc khác vẫn đang nảy sinh và tồn tại. Nếu không giải quyết được các mâu thuẫn này, chúng sẽ làm "xói mòn sự ổn định" và "sự tin tưởng chung" đối với cả hệ thống pháp luật. Yêu cầu đặt ra là phải thiết lập các luật lệ cho việc giải quyết các mâu thuẫn đó.

Mâu thuẫn mang tính quy phạm là mâu thuẫn giữa các quy tắc mà mỗi quy tắc có giá trị của chính nó, nhưng các quy tắc đó lại không thể áp dụng đồng thời, cùng nhau, cho các vấn đề giống nhau. Trong thực tế, chúng có thể biểu hiện dưới các dạng sau:

Mâu thuẫn giữa các quy tắc trong cùng một văn bản: Khi hai hay nhiều quy tắc pháp luật đều không thể cung cấp cách giải quyết vấn đề, khi đó mâu thuẫn xuất hiện. Ví dụ một trường hợp mà tồn tại hai quy tắc, một quy tắc cho phép và một quy tắc cấm đoán, thì hai quy tắc đó mâu thuẫn với nhau. Mâu thuẫn giữa các quy tắc chính là biểu hiện lỗi của hệ thống pháp luật.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, bản thân mâu thuẫn cần phải được xác định. Một mâu thuẫn chỉ thực sự tồn tại khi kết thúc tất cả các quá trình giải thích liên quan. Tòa án là chủ thể có vai trò dẫn dắt đến cách giải quyết các mâu thuẫn này nhờ vào sự giúp đỡ của các luật lệ giải thích. "Một mâu thuẫn thực sự tồn tại khi nó làm kiệt sức tất cả các khả năng giải thích đối với nó". Việc xác định rõ giá trị pháp lý của mỗi quy tắc là hoạt động giải thích theo nghĩa hẹp và quá trình xác định mối liên hệ giữa một quy tắc và một quy tắc khác – giải thích theo nghĩa rộng là khác nhau. Luật lệ để giải quyết mâu thuẫn giữa các quy tắc trong các văn bản khác nhau là luật lệ của giải thích theo nghĩa rộng.

Mâu thuẫn có thể tồn tại khi trong một văn bản có hai quy tắc mâu thuẫn với các quy tắc khác. Vậy quy tắc nào sẽ có hiệu lực áp dụng. Thông thường các hệ thống pháp luật đều có cách lựa chọn đối với quy tắc ra đời sau, hoặc quy tắc có giá trị pháp lý cao hơn.

Mâu thuẫn giữa các quy tắc trong các văn bản khác nhau: Mâu thuẫn có thể xảy ra giữa hai quy tắc có giá trị pháp lý ngang nhau ở các đạo luật ngang nhau, đưa vào các văn bản khác nhau. Nếu mâu thuẫn là có thực, sau khi thẩm phán đã sử dụng hết các khả năng giải thích thông thường, thì cái chiếm ưu thế sẽ là quy tắc được ban hành muộn hơn, điều này có giá trị đối với cả các đạo luật, di chúc và hợp đồng.

Mâu thuẫn giữa các quy tắc có giá trị pháp lý khác nhau: Vấn đề đặt ra là nếu một quy tắc cao mâu thuẫn với một quy tắc thấp hơn, câu trả lời thường xuyên là quy tắc cao nhất có giá trị áp dụng. Vậy vấn đề đặt ra là, làm thế nào để quy tắc cao nhất vẫn là cao nhất, và quy tắc thấp hơn vẫn có thể phát huy được giá trị hợp lý của nó. Ví dụ Hiến pháp New Dilan quy định các thẩm phán không được xem lại tính hợp hiến của các đạo luật. Trong hệ thống pháp luật Hà Lan thì nguyên tắc cao nhất là chính trị chứ không phải là pháp luật, các cơ quan lập pháp không được hoạt động ngoài nguyên tắc này.

Như vây, cao nhất có lẽ không phải là pháp luật, cũng không phải là chính trị, mà chính là cái có thể làm mất hiệu lực của một quy tắc thấp hơn. Tiêu chuẩn có tác dụng quyết định đến mối liên hệ giữa hiến pháp và đạo luật; đạo luật và các văn bản dưới luật là tiêu chuẩn của giải thích theo nghĩa rộng. Các thẩm phán không đưa ra nghĩa của các văn bản khác nhau mà xác định rõ hơn hiệu lực pháp lý của chúng, điều này dựa vào luật lệ của giải thích theo nghĩa rộng.

Sửa chữa lỗi trong văn bản

Thông thường sự sửa chữa lỗi trong văn bản thuộc về tác giả của chúng. Tuy nhiên, thẩm phán trong luật lệ của giải thích thông thường có thể sửa chữa các lỗi đó, trên cơ sở không thêm hoặc bớt; nhưng sẽ là tốt hơn nếu thẩm phán được phép cân nhắc sửa chữa cái có thật xung quanh văn bản hơn là sửa chữa một lỗi, vì với vị trí của họ, thẩm phán là chủ thể mà không ai có thể tranh luận hơn.

Trong thực tế cũng có quan điểm cho rằng: "Nếu các từ ngữ của một hành động là trong sáng, anh (tòa án) phải theo chúng, thậm chí dù anh nghĩ chúng sẽ dẫn dắt đến một sự vô lý. Tòa án sẽ là vô lý nếu hỏi, nhà lập pháp liệu có tận tâm không, và tòa án không có gì để làm trong trường hợp này"13.

Đây là một nhận định tương đối khắc nghiệt, nó phù hợp hơn với giải thích thông thường, bởi vì sự sửa chữa lỗi của thẩm phán trong thực tế đôi khi giúp nhận ra mục đích của đạo luật, ý định chung của các bên trong hợp đồng và ý định của người lập di chúc trong di chúc.

Vì vậy trong những trường hợp nhất định, thẩm phán đã được phép tác động đến một lỗi trong đạo luật trên cơ sở giảng giải, để tránh việc làm hỏng ý định của nhà lập pháp hoặc mục đích của đạo luật, nhất là đối với những trường hợp mà bất cứ một người đọc văn bản nào cũng có thể nhận ra lỗi mà văn bản đó chứa đựng.

Truyền thống pháp luật Anh ủy quyền một thẩm phán sửa chữa những lỗi hiển nhiên trong một văn bản đã được ban hành, đây cũng là ý muốn của các cơ quan lập pháp để ý định của văn bản có thể được nhận ra.

Hầu hết các hệ thống pháp luật đều cho phép các thẩm phán sửa chữa lỗi trong hợp đồng14. Lỗi trong hợp đồng chính là khoảng trống giữa sự thỏa thuận thực sự đạt được bởi các bên, và sự thỏa thuận mà họ đã thể hiện bằng ngôn ngữ của hợp đồng.

Trong Sucession Law, 1965, L.S.I quy định: "Nơi mà một di chúc chứa đựng một lỗi rõ ràng, hoặc một lỗi khi mô tả về người hoặc tài sản, mô tả thời hạn, số liệu, lịch hoặc các vấn đề tương tự mà sự mô tả này có khả năng để quyết định rõ ràng ý định đúng của người để lại di chúc, thì thẩm phán có thể sửa chữa lỗi đó"15.

Thay đổi ngôn ngữ trong văn bản để tránh sự vô lý

Sự giải thích theo nghĩa hẹp làm cho văn bản được hiểu theo một nghĩa thông thường và tự nhiên của nó. Tuy nhiên không phải lúc nào nghĩa thông thường và tự nhiên của văn bản cũng được ngôn ngữ của văn bản đảm bảo sự hợp lý và thỏa đáng. Khi đó, phải có một "nguyên tắc vàng" của giải thích theo nghĩa rộng xuất hiện, để có thể tránh sự vô lý được mang tới từ các nghĩa của ngôn ngữ văn bản. Thứ nhất, đó là thẩm phán được phép phân chia, làm chệch hướng từ nghĩa tự nhiên, nghĩa thông thường của ngôn ngữ nếu các nghĩa đó sẽ dẫn đến kết quả vô lý16. Nó hướng dẫn người giải thích chọn một nghĩa pháp luật hợp lý của văn bản giữa một số ít các ngữ nghĩa học mà văn bản có thể tổng hợp trong ngôn ngữ. Thứ hai, văn bản có thể mang lại một sự vô lý xa hơn giới hạn của ngôn ngữ, thì cho phép một thẩm phán chữa ngôn ngữ, thêm vào nó, hoặc làm trượt ra từ nó, để tránh sự vô lý17.

Hoàn thành mục đích của văn bản bằng những thay đổi nhất định

Trong thực tế, đôi khi mục đích mang tính tổng quát của văn bản không được thể hiện ở ngôn ngữ của nó. Trường hợp này, nguyên tắc của giải thích pháp luật thông thường là chỉ được đưa đến cho văn bản một nghĩa mà ngôn ngữ của nó có thể mang, hay mục đích của văn bản chính là cái được thể hiện trực tiếp tại ngôn ngữ hiện hữu của văn bản.

Truyền thống thông luật thừa nhận học thuyết giải thích theo nghĩa rộng đối với trường hợp của luật hợp đồng và di sản. Nếu một hợp đồng hoặc một hành động pháp lý của một bên di tặng tài sản cho mục đích công cộng, và mục đích đó không thể được đáp ứng, một thẩm phán có thể ra lệnh tài sản đó được sử dụng cho một mục đích có thật tương tự. Ví dụ: một người để lại di sản của mình cho bệnh viện trong việc điều trị bệnh X. Nhưng thời gian trôi qua, các nhà khoa học đã triệt tiêu được căn bệnh X. Vậy bệnh viện đó có thể sử dụng quỹ đó để chữa trị căn bệnh Y không? Sự giải thích thông thường không cho phép. Nhưng hoạt động giải thích theo nghĩa rộng thì khác, nó có thể dẫn dắt đến kết quả số tiền để chữa bệnh X có thể được dùng để điều trị căn bệnh Y. Hoạt động giải thích theo nghĩa hẹp khi đến giới hạn của nó, người giải thích phải dừng lại; nhưng hoạt động giải thích theo nghĩa rộng thì có thể đi tiếp, cụ thể trong trường hợp này, thẩm phán có thể quyết định rằng quỹ đó được phép sử dụng để chữa trị các căn bệnh khác, và điều này là phù hợp với mục đích và ý tưởng của người để lại tài sản.

3. Nguyên tắc của giải thích pháp luật theo nghĩa rộng

Giải thích theo nghĩa rộng chính là hành động rời xa ngôn ngữ của văn bản mà chủ thể giải thích (thẩm phán) mang đến trong quá trình thực hiện. Giải thích theo nghĩa rộng chỉ diễn ra trong thực tế khi có sự cho phép, các chủ thể giải thích phải được ủy quyền, và hoạt động này sẽ chấm dứt khi sự ủy quyền đó kết thúc. Vì vậy, hoạt động này không xuất hiện một cách thông thường, nó là một ngoại lệ và cần có sự bảo vệ bằng một học thuyết đặc biệt, bằng cả một cơ chế giải thích và thực hiện pháp luật nhất định. Nguyên tắc chung, phổ biến là các thẩm phán, các chủ thể giải thích vẫn phải làm việc trong giới hạn của ngôn ngữ. Giải thích theo nghĩa rộng chỉ xuất hiện khi kết thúc tất cả các giai đoạn và thủ thuật giải thích thông thường, khi giải thích theo nghĩa hẹp đã đi hết các chặng đường của nó. Các chủ thể được ủy quyền phải sử dụng những nội dung nhất định của cách giải thích này, trong một giới hạn, phạm vi vấn đề cụ thể, nếu không, các quy tắc giải thích thông thường, nguyên tắc phân chia quyền lực, nguyên tắc dân chủ trong hiến pháp, nguyên tắc tôn trọng sự tự trị của các văn bản tư… sẽ bị xâm phạm.

4. Giá trị và sự vận dụng lý thuyết giải thích pháp luật theo nghĩa rộng vào Việt Nam

Giá trị của giải thích theo nghĩa rộng nằm trong bản thân những nội dung mà hoạt động này chứa đựng, tuy nhiên cũng từ chính những nội dung này cho thấy đây là một hoạt động phức tạp và đòi hỏi sự thận trọng cao khi tiến hành. Việc chấp nhận và vận dụng những mức độ nào đó của lý thuyết này tùy thuộc vào quan niệm, vào truyền thống pháp luật, vào cơ chế thực hiện pháp luật, và vào trình độ, hiệu quả hoạt động của các chủ thể giải thích.

Nội dung của giải thích theo nghĩa rộng còn có thể được bổ sung, bởi nó phụ thuộc vào nhu cầu, vào cách thức tiếp cận văn bn khi hiểu, thực hiện trong thực tế, vào chính yêu cầu của văn bản khi giải thích, nó cũng biến đổi cùng với sự biến đổi chung của đời sống pháp lý… Tính mục đích là điều phải được cân nhắc đầu tiên khi vận dụng cách thức giải thích pháp luật này. Tiếp đến là việc thừa nhận vai trò của thẩm phán, sự tin tưởng đối với các kết quả xét xử, đến việc tạo lập và phát triển một cơ chế giải thích pháp luật hiệu quả…

Giải thích pháp luật theo nghĩa rộng, ở một khía cạnh nào đó, sẽ tạo nên những tác động nhất định đến các nhà lập pháp trong việc biểu đạt và dự liệu các vấn đề có thể xảy ra bằng ngôn ngữ văn bản. Nó yêu cầu hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản phải có sự cân nhắc, dự liệu, bao quát và sát thực cao nhất có thể, đối với các tình huống trong cuộc sống.

Việc tiếp cận, vận dụng lý thuyết giải thích pháp luật theo nghĩa rộng một cách hợp lý là điều cần thiết. Tuy nhiên, muốn vận dụng có hiệu quả thì phải kiểm soát được nó, phải nhận thức và phát huy được những ưu điểm nó có thể mang lại, đồng thời hạn chế được những hậu quả kinh khủng mà nó có thể gây ra, nếu như tính mục đích trong quá trình giải thích bị điều khiển.

Việt Nam chúng ta đang bước đầu chú trọng đến công tác giải thích pháp luật, một phần vì thực trạng giải thích pháp luật thời gian qua, một phần vì chúng ta không thể đứng ngoài xu thế chung của thời đại.

Việc có một lý thuyết giải thích pháp luật đồng bộ, một thực tiễn giải thích pháp luật tương ứng là một mục tiêu lớn của Việt Nam. Hoạt động giải thích pháp luật theo nghĩa rộng là hoạt động đòi hỏi một trình độ cao trên tất cả các phương diện pháp lý. Tham khảo, vận dụng ở mức độ thích hợp lý thuyết này, cũng chính là một cách hoàn thiện về lý luận và thực tiễn giải thích pháp luật của chúng ta trong quá trình hội nhập và phát triển.

Chú thích:

(1) C. Ogden and I.Richard, The meaning of meaning, (10th ed, 1956); M.S.Moore, "Semantics of Judging", 54 S. Cal. L.Rev. 151 (1981); H.Hart and A. Sachs, " The legal process", 1994

(2) K.Larenz, "Methodenlehre der Rechtswissenchaft", (5th ed, 1983)

(3) F.V.Hawkins, "On the Priciple of Legal Interpretation", (298-357, 1860) (4) J. Steyn, "Interpretation: Legal Texts and Their Landscape," (73, 82, B. Markesinis ed, 2000)

(5) Aharon Barak, "Porposive Interpretation in Law", (61-97, Princeton Uni, 2005)

(6) J. H. Merryman, "The Italian Legal Style III: Interpretation", 18 Stan. L. Rev. 583, 1996

(7) Aharon Barak, "Porposive Interpretation in Law", (67-68, Princeton Uni, 2005)

(8) N. Marsh, "Interpretation in a National and International", (67, 1974)

(9) The Moorcock (1889) 14 P.D. 64; Luxor (Easthourne) Ltd v. Cooper (1941) A.C. 108

(10) E.A. Farnsworth, "Disputes over Omission in Contracts", 68 colum. L. Rev. 860 (1986)

(11) Section 239 of the Portuguese Civil Code; E. Bucher et al., Schweizerisches Obligationenrecht 160 (1979)

(12) Article 4.8 of Unidroit, "Principle of International Commercial Contracts", 284, 1994.

(13) R. v. Lord Esher, "Judge of City of London Court", (273, 290, Q.B, 1892)

(14) Lewison, supra p.42, note 130 at 227.

(15) Sucession Law, 1965, 19 L.S.I. 58, 63, sec. 32.

(16) Benion, supra p.6, note 13 at 751; Cross, supra p.3, note 3 at 16; Lewison, supra p.42, note 130 at 85

(17) Cross, supra p.3, note 3 at 16.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/to-chuc-bo-may-nha-nuoc/111oi-111ieu-ve-giai-thich-phap-luat-theo-nghia-rong

THẨM PHÁN (judge), LUẬT SƯ (barrister) và LUẬT SƯ CỐ VẤN PHÁP LUẬT (solicitor) KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Thẩm phán là nhân vật chủ chôt trong hệ thông xử án.
Người đó chỉ đạo việc tiến hành phiên toà và tuyên bố hình phạt đối với những người phạm tội. Thẩm phám thường được chọn lựa từ luật sư đang hành nghề (ở Scotland gọi là "advocate") hoặc từ những luật sư cố vấn pháp luật, và ít nhất phải có quá trình công tác chuyên môn là 10 năm.
Loại thẩm phán được chọn để chủ trì một phiên toà tuỳ theo mức độ nghiêm trọng và độ phức tạp của ca xử. Một số vụ nghiêm trọng được thụ án bởi Toà án Đại hình (Crown Court). Toà án này đóng ở 94 địa điểm ở England và Wales, một số toà đại hình bao gồm môt số phòng xử án riêng.
Đơn kháng cáo cấp toà án đại hình được chuyển lên Toà Phúc thẩm (Court of Appeal). Muốn kháng cáo lên nữa, đơn sẽ được chuyển lên Thượng Nghị Viện (House of Lords) nếu thấy ca xử đó có tầm quan trọng đối với công chúng.
Hầu hết các vụ án dân sự nhẹ được xử ở các toà án khu vực. Số toà này có khoảng 270. Những vụ án này do thẩm phán hạt (circuit judge) hoặc thẩm phán khu (district judge) thụ lý. Toà sơ thẩm (magistrate court) là toà thấp nhất trong hệ thống pháp luật. Việc phán xử thường không do các thẩm phán hoặc luật sư chuyên nghiệp thực hiện mà thường do đại diện được cộng đồng cử ra để hoà giải; người này gọi là thẩm phán hoà giải (magistrate). Nhiệm vụ chính của người này là tiến hành xét xử sơ thẩm đối với những vụ không nghiêm trọng lắm. Còn những vụ nghiêm trọng hơn sẽ được chuyển lên Toà Đại hình.
Nghề luật sư ở nước Anh chia làm hai ngành: luật sư (barrister/ ở Scotland gọi là ‘advocate’) và luật sư cố vấn pháp luật (solicitor)

Luật sư cố vấn pháp luật (solicitor): phục vụ cá nhân và phối hợp các khách hàng để hoạt động;
Luật sư (barrister) thì tư vấn pháp luật thông qua luật sư cố vấn pháp luật và chuyển những vụ cần thiết lên toà cấp cao hơn. Hai loại luật sư này có một số chức năng chung, ví dụ chuyển ca xử xuồng toà cấp thấp hơn. Một luật sư (barrister) phải qua một kỳ thi nghiệp vụ trước khi được gia nhập Đoàn luật sư (Bar). Sau đó họ bước vào giai đoạn thực tập (pupillage), làm việc cùng với những luật sư có kinh nghiệm trong vòng một năm. Luật sư cố vấn pháp luật cũng phải qua một kỳ thi và thực tập hai năm, gọi là "articles" trong một cơ quan pháp luật. Một khi đã đạt yêu cầu, thì luật sư cố vấn pháp luật mới được chấp nhận đó sẽ được kèm cặp thêm trong ba năm.